Khái Quát Ngành Tre Việt Nam

Đây là bài được viết vào 2014 khi mà Việt Nam đang đứng trước các cơ hội hội nhập quốc tế, các nhận định vẫn còn nguyên giá trị và có những lời khuyên bổ ích cho nhà đầu tư, vì một ngành tre Việt Nam phát triển.

Hiện nay, khi mà TPP dường như sắp đóng lại, khi mà nhiều con người con đang cảm thấy thất vọng thì những người sản xuất trong ngành tre thực sự nên cười lớn, bởi sẽ phải tự mình tạo nên thị trường, không sợ bị Trung Quốc tới thao túng dưới vỏ bọc đầu tư hay doanh nghiệp pháp nhân Việt, cơ hội vẫn còn cho những ai nhanh tay. Xin mời xem bài viết.

 

Khái niệm tre công nghiệp dùng để chỉ những sản phẩm được sản xuất ra từ cây tre thông qua một quy trình công nghệ nào đó và có thể được sản xuất với quy mô hàng loạt bằng máy móc tự động hoặc bán tự động. Tre công nghiệp dùng để phân loại nhóm sản phẩm làm từ tre như ván sàn tre, tấm tre ép làm nội thất, tấm lót đường tre, vv khác với tre mĩ nghệ là những sản phẩm được sản xuất thủ công và máy móc thô sơ như bát đĩa nứa cuốn, cót mĩ nghệ, rổ rá đan, vv.

Hiện nay, Trung Quốc là nước có ngành tre công nghiệp phát triển nhất về quy mô và chất lượng, nhiều quốc gia ở Đông Nam Á như Việt Nam, Philippines, Indonesia, các quốc gia châu Phi như Algeria, Congo, vv là những nơi có điều kiện địa lí thích hợp cho sự sinh trưởng của cây tre cũng đã trong quá trình hoạch định chính sách phát triển ngành, hoặc đã có sản xuất với quy mô nhỏ.

Ngành tre công nghiệp của Việt Nam xuất hiện trong thời gian khoảng vài chục năm trở lại, đầu tiên là nghề ép cót xây dựng xuất khẩu, sau đó một số doanh nghiệp Việt Nam đã học hỏi thêm từ các đối tác Đài Loan, Trung Quốc cũng như được sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế như PI, Gred, vv xây dựng lên các nhà máy chế biến tre ép thanh, từ đó làm ra các sản phẩm như ván sàn tre, nội ngoại thất tre ép.

Công nghệ sản xuất tre công nghiệp có thể tạm chia thành một số mảng chính như sau:

  • Sản xuất tre ép thanh.
  • Sản xuất tre ép sợi.
  • Sản xuất tre ép cán dập.
  • Sản xuất vải sợi.
  • Sản xuất năng lượng.

Trong đó, tại Việt Nam, lãnh vực sản xuất tre ép thanh là có lịch sử lâu đời nhất, ngành tre ép sợi manh nha nhưng đã tạm ngưng sản xuất, sản xuất tre ép cán dập vẫn trong quá trình nghiên cứu và phát triển nhưng đã có những nhà máy quy mô được xây dựng, các lãnh vực khác chưa có tại Việt Nam.

Xu thế đầu tư nghiên cứu vào ngành tre công nghiệp trên thế giới đang thu hút một lượng tiền lớn vào lãnh vực sản xuất năng lượng, với nhiều bài nghiên cứu và kế hoạch phát triển, biến tre thành nguồn nguyên – nhiên liệu xanh, sạch, các ứng dụng trong lãnh vực này là sản xuất xăng Ethanol, sản xuất điện đốt tre, sản xuất viên nén nhiên liệu, vv

Tre thuộc họ cỏ, trong điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng tốt, tre chứa hàm lượng lingo – cellulose cao, là thành phần chính tạo nên thân gỗ. Chính vì tre có chứa hai đặc điểm này, nên tre có tính ứng dụng cao vào chế biến như một loại lâm sản đặc biệt. Tuy nhiên, do cấu tạo thân dạng ống, thành ống mỏng và phân bố độ dày khác nhau từ gốc lên ngọn, nên trở ngại trong việc sản xuất chế biến cũng rất lớn, đặc biệt là việc tận dụng tối đa thể tích của cây tre, giảm thiểu hao phí nguyên liệu và rác thải. Lãnh vực tre ép thanh chỉ tận dụng được khoảng 40-50% nguyên liệu ướt dựa trên tính toán về mặt khối lượng, trong khi ngành này đang chiếm tỉ trọng sản xuất cao trong tình trạng hiện tại của Việt Nam. Lãnh vực sản xuất tre ép cán dập có tỉ lệ thu hồi cao nhất đạt khoảng 60%, cùng là lãnh vực này ở Trung Quốc, có nhà máy sản xuất bố trí với quy trình tự động đạt tỉ lệ thu hồi trên 90%. Chính vì thế, giá thành sản xuất của sản phẩm tre ép cán dập có thể nói là thấp nhất so với các sản phẩm ở các lãnh vực khác.

Việc đầu tư sản xuất tre công nghiệp, để tối đa hóa lợi nhuận cần được quy hoạch tổng thể trong một vùng hoặc một khu công nghiệp sát với nguồn nguyên liệu với các nhà máy sản xuất chế biến có thể hỗ trợ tiêu hóa các phần khác nhau trong cùng một cây tre, việc này sẽ được đề cập trong một bài viết khác.

Việc đầu tư xây dựng lên một số nhà máy sản xuất tre ép cán dập với quy mô lớn ở Việt Nam với quy trình công nghệ chưa được tối ưu hóa để có thể sản xuất ra nhiều loại sản phẩm khác nhau cũng đang trở thành một vấn đề cần suy nghĩ cho những nhà đầu tư và quản lí của ngành này. Các nhà máy này cần nghiên cứu cải tiến một số điểm kĩ thuật để đạt được mục tiêu sản xuất và thị trường linh hoạt hơn.

Việc đầu tư cho nghiên cứu tự động hóa sản xuất cũng không kém phần quan trọng, trên lí thuyết và kinh nghiệm thực tế của người viết bài này, sản xuất chế biến tre hoàn toàn có thể đi tới tự động hóa, nhằm giảm tối đa giá thành sản xuất, nâng cao lợi nhuận.

Tre ép thanh là lãnh vực mà sản phẩm của nó được cấu tạo từ các thanh tre đã được đình hình chuẩn về một kích thước nhất định và được liên kết lẫn nhau bằng màng keo. Tre ép thanh cũng là lãnh vực có thể đầu tư với số vốn thấp nhất so với các lãnh vực khác. Nhà đầu tư có thể lựa chọn quy trình ép nóng hay nguội dựa trên khả năng tài chính của mình, tuy nhiên điểm thắt nút của lãnh vực này nằm ở khâu sản xuất chế biến nguyên liệu.

Các nhà cung cấp nguyên liệu tre sau một thời gian biến động về thị trường đã củng cố chiến lược phát triển của họ vào lãnh vực chế biến giấy vàng mã và đũa ăn, việc chế biến nan tre ép thanh chỉ là phụ trong dây chuyền sản xuất của họ và không được đầu tư thêm thiết bị, vì thế các nhà máy ép tre ép thanh chỉ có thể lựa chọn hoặc là tự chế biến nguyên liệu hoặc là đi thu mua lại từ các nhà cung cấp nguyên liệu nan tre với mức giá cao và thời gian giao hàng không ổn định.

Để đầu tư cho khâu chế biến nguyên liệu, không dễ đối với một nhà máy với quy mô nhỏ hoặc nhà đầu tư không mạnh về vốn, bản thân tre có chứa một lượng lớn chất dinh dưỡng, những chất này có thể trở thành thức ăn cho vi sinh vật, côn trùng và kể cả động vật, nếu không xử lí loại bỏ những chất này đi, sản phẩm sẽ bị vi sinh vật như nấm mốc và côn trùng như mọt tấn công, làm giảm giá trị thẩm mĩ và chất lượng sử dụng của sản phẩm, để có thể xử lí được, cần đầu tư hệ thống luộc, hấp và sấy với quy mô công nghiệp, cần một số vốn khoảng vài tỉ đồng trở lên.

Tre ép thanh cũng là lãnh vực có tính ứng dụng rộng rãi nhất, đặc biệt là cho nội thất như ván sàn, bàn, ghế, giường, tủ, đồ dùng nhà bếp, cho tới các dụng cụ nhỏ như thìa, nĩa, hoặc đồ dùng nhà tắm như móc treo áo, nắp bồn cầu, vv vì thế đầu tư cho tre ép thanh có thể nhanh chóng tiếp cận được với thị trường tiêu dùng, lãnh vực này có thể sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư cá nhân hơn, tuy nhiên cũng vì đặc thù từ khâu chế biến nguyên liệu, cho nên nhà đầu tư cần tính toán kĩ công đoạn mà mình sẽ bỏ tiền vào.

Lãnh vực chế tạo sợi vải và năng lượng còn xa lạ đối với nhiều nhà đầu tư Việt Nam. Sợi vải có thể là một lãnh vực tiềm năng vì ngành may mặc của Việt Nam chủ yếu là gia công và phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu từ Trung Quốc. Còn lãnh vực chế tạo năng lượng cần có sự ủng hộ từ chính sách phát triển bền vững của nhà nước, đặc biệt là về mặt môi trường và khí thải.

 

Thời điểm mà Việt Nam đang mở cửa hết sức với các thị trường quốc tế thông qua các hiệp định tự do thương mại như AEC, FTA, và tương lai là TPP, thì ngành sản xuất chế biến sản phẩm từ tre có cơ hội lớn hơn với các ưu đãi về thuế và chính sách sử dụng vật liệu bền vững của các quốc gia thành viên, có thể giảm được nhiều áp lực từ nền sản xuất Trung Quốc. Tuy nhiên, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh của Việt Nam, cần phải tiến tới các thị trường mục tiêu và xây dựng thương hiệu cho chính mình, bằng việc xây dựng hệ thống bán hàng trực tiếp hoặc gián tiếp tại các thị trường đó thay vì chỉ nhận đơn đặt hàng từ các công ty nước ngoài như truyền thống. Cần thiết có một hiệp hội liên kết các doanh nghiệp trong ngành, chung sức phát triển, chia sẻ khó khăn và cùng tìm kiếm cơ hội, giải pháp.

 

Trong tương lai gần, khi thị trường Việt Nam mở cửa mạnh mẽ hơn với quốc tế, do đặc điểm địa lí gắn liền với Trung Quốc, Việt Nam có thể sẽ trở thành vùng đệm cho các doanh nghiệp Trung Quốc đi tới các thị trường mà Trung Quốc không được ưu đãi, nếu thế cái lợi lớn nhất của doanh nghiệp Việt sẽ mất ngay khi chính chúng ta đang nắm cơ hội và địa thế thuận lợi nhất. Các doanh nghiệp Trung Quốc có thể sẽ dưới hình thức liên kết hoặc đại diện pháp luật là người Việt Nam để đặt cơ sở sản xuất tại Việt Nam, với khả năng tài chính mạnh mẽ của họ, nguồn tài nguyên tre công nghiệp của Việt Nam sẽ không được chính người Việt Nam khai thác, nguồn lợi lớn nhất sẽ thuộc về tay người Trung Quốc hoặc nước khác.

Tre công nghiệp, một ngành tương đối hẹp trong ngành lớn chế biến lâm sản, nhưng đang chứa đựng một tiềm năng lớn trong xu thế phát triển bền vững của thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam, đứng trước một cơ hội lớn cũng là đang phải đối mặt với thách thức lớn, cần những nhà đầu tư ở mọi quy mô tham gia, cần những nhà làm chính sách từ chính phủ tham gia, cần những nhà quản lí tham gia và cần một tổ chức hiệp hội mạnh mẽ để hướng vào sản xuất, đồng thời hướng ra thị trường quốc tế.

Trung Kien – TV