CHẾ BIẾN TRE, LUỒNG THANH HÓA ĐI VỀ ĐÂU???

 

Ths. Vũ Trung Kiên[1]

TS. Nguyễn Mạnh Dũng

 

Thanh Hóa là tỉnh có diện tích tre luồng lớn nhất Việt Nam với diện tích hơn 150 000 ha rừng tre, luồng, trong đó rừng luồng trồng là hơn 71 000 ha, phân bố chủ yếu ở các huyện miền núi phía tây của tỉnh. Chính vì vậy, lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa đã và đang coi tre luồng là một trong những thế mạnh phát triển nông, lâm nghiệp của tỉnh, nhất là trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế và tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững hiện nay.

Nhằm biến thế mạnh đó thành hiện thực và cũng để đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong phát triển tre luồng, nhất là trong lĩnh vực chế biến công nghiệp và các lĩnh vực khác như: phát triển bền vững vùng nguyên liệu; công nghệ sản xuất, chế biến tre luồng; thị trường sản phẩm tre luồng và kêu gọi hỗ trợ đầu từ vào lĩnh vực tre luồng,…, trong ngày 09-10 tháng 09 năm 2015, Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã phối hợp với Dự án rừng và đồng bằng Việt Nam, USAID, Winrock và một số tổ chức quốc tế khác tổ chức hội thảo “Hợp tác quốc tế phát triển tre luồng tỉnh Thanh Hóa”.

Tham gia hội thảo về phía Thanh Hóa có đại diện của UBND tỉnh, Tổ Công tác phát triển tre luồng của tỉnh, các ban, ngành liên quan của tỉnh; Đại diện Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Khoa học và Công nghệ; Đại diện của Dự án Rừng và Đồng bằng Việt Nam, USAID, Winrock, SNV, Mạng lưới mây tre quốc tế (INBAR), … Các đại biểu đã trình bày nhiều tham luận trong các lĩnh vực liên quan và hướng đến mục tiêu phát triển chế biến công nghiệp tre, luồng của Thanh Hóa nhằm nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững nguồn tài nguyên quý giá này. Trong khi một số đại biểu đã khẳng định tiềm năng phát triển của ngành tre luồng nói chung và ngành tre luồng của tỉnh Thanh Hóa nói riêng, thì một số đại biểu khác lại tập trung nêu lên thực trạng của rừng tre luồng đang xuống cấp của tỉnh Thanh Hóa, đưa ra một số giải pháp để khắc phục,và cũng đưa ra các ý tưởng đầu tư sản xuất bền vững, nâng cao giá trị gia tăng của cây tre luồng, nhấn mạnh tính quan trọng của việc hợp tác quốc tế, chuyển giao công nghệ và kĩ thuật, công tác ươm trồng và chọn giống, học tập kinh nghiệm từ mô hình phát triển của ngành tre Trung Quốc. Nhìn chung, các địa biểu đã đứng trên nhiều góc độ khác nhau để đưa ra những đóng góp tích cực cho việc phát triển ngành tre luồng của tỉnh Thanh Hóa. Đáng chú ý nhất trong Hội thảo này là bản Dự thảo Kế hoạch phát triển tre luồng tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2015 – 2020, định hướng đến năm 2030 của UBND tỉnh Thanh Hóa do Tổ công tác quốc tế phát triển tre luồng tỉnh trình bày.

Theobản Dự thảo này thì trên địa bàn toàn tỉnh chỉ có tổng cộng 47 doanh nghiệp và nhà máy chế biến tre Luồng, với lượng tiêu thụ hơn 10 triệu cây tre hằng năm, tuy nhiên những sản phẩm chế biến tại địa bàn tỉnh có giá trị gia tăng thấp, quy mô đầu tư của các cơ sở chế biến nhỏ, vốn đầu tư chưa vượt qua mức 5 tỉ đồng. Vì thế, mục tiêu đề ra là phải đẩy mạnh sản xuất chế biến tre công nghiệp, song song với mở rộng thị trường tiêu thụ. Một số giải pháp quan trọng được đưa ra là phát triển sản xuất kinh doanh, xây dựng chính sách phát triển phù hợp, tăng cường hợp tác quốc tế, chuyển giao công nghệ, vv. Dự thảo này cho thấy Thanh Hóa đang hướng đến việc “Phát triển và quản lý bền vững rừng tre luồng, đẩy mạnh sản xuất chế biến công nghiệp và mở rộng thị trường thụ sản phẩm gắn với nâng cao chuỗi giá trị gia tăng cho ngành tre luồng và đời sống người dân vùng trồng tre luồng” với 6 mục tiêu cụ thể là:

Mục tiêu 1: Quản lí và phát triển bền vững rừng tre luồng trên địa bản tỉnh, phấn đấu đến năm 2020 tiến hành thâm canh 29.982 ha, năng suất vùng thâm canh đạt 4000 cây/ha, sản lượng khai thác hàng năm đạt 40 triệu cây/năm, tương đương 0,92 triệu tấn / năm, năm 2030 phấn đấu thâm canh đạt 57.000 ha, sản lượng khai thác hàng năm đạt 77 triệu cây/năm, tương đương 1,77 triệu tấn/năm.

Mục tiêu 2: Tập huấn kĩ thuật, chuyển giao công nghệ cho 11.000 người trong hộ dân trồng luồng.

Mục tiêu 3: Phát triển hệ thống sản xuất, kinh doanh các sản phẩm tre luồng bền vững; năm 2020, phát triển được 5 nhà máy sản xuất tre luồng với công suất trung bình nhà máy tương đương 70.000 tấn sản phẩm/năm ( tương đương 350.000 tấn tre công nghiệp /năm) và hệ thống 100 doanh nghiệp vệ tinh cung cấp nguyên liệu thô cho nhà máy, doanh thu đạt khoảng 3500 – 4000 tỉ/năm; năm 2030 phát triển 10 nhà máy sản xuất tre luồng với công suất trung bình 70.000 tấn sản phẩm/năm và hệ thống 180 – 200 doanh nghiệp vệ tinh, doanh thu đạt 9.000 – 10.000 tỉ/năm. Tăng nguồn thu ngân sách nhà nước hàng trăm tỉ đồng.

Mục tiêu 4: Tạp công ăn việc làm cho 4000 lao động, tăng gấp đôi so với hiện nay, mức thu nhập trung bình tăng gấp đôi từ mức 2.5 – 3 triệu đồng/người/tháng lên mức 5-6 triệu đồng/người/tháng.

Mục tiêu 5: Nâng cao giá thu mua nguyên liệu tăng từ 1 – 1,5 lần. (Giá thu mua tầm vông hiện nay là 4.500 đồng/kg, trong khi giá luồng là 1.100 đồng/kg).

Mục tiêu 6: Củng cố và phát triển 50-55 doanh nghiệp sản xuất hàng thủ công mĩ nghệ, phấn đấu sản xuất đạt 100 triệu USD. Giải quyết lao động tăng thêm 6000 lao động. Tăng thu nhập cho người lao động trong lĩnh vực sản xuất hàng thủ công mĩ nghệ lên gấp đôi hiện nay.img_0189

Mặc dù có nhiều tâm huyết, nhưng nhiều vấn đề có lẽ vẫn chưa được giải quyết theo đúng bản chất của nó. Có rất nhiều diễn giả đề cập đến vấn đề chế biến tre công nghiệp, coi đó như một hướng phát triển mang lại giá trị gia tăng cao cho tre, luồng Thanh Hóa như những gì mà người An Cát (Chiết Giang, Trung Quốc) đã làm và nhiều đại biểu của Hội thảo này đã có chuyến đi tham quan hồi đầu năm 2015; chẳng hạn như việc chọn giống, phục tráng rừng luồng Thanh Hóa;… Song hầu như vẫn chỉ là những giải pháp chung chung như vẫn thường thấy ở những hội thảo tương tự. Chưa hề có đại biểu nào đề cập đến việc phải thực hiện chế biến công nghiệp, hay chế biến các sản phẩm công nghiệp từ luồng Thanh Hóa thế nào ngoài việc học tập (bê nguyên xi) các mô hình chế biến tre của Trung Quốc vào bất chấp việc luồng Thanh Hóa có những đặc điểm tương đối khác biệt với tre (moso) Trung Quốc. Chính do những đặc điểm khác biệt này mà nhiều doanh nghiệp chế biến tre công nghiệp của Việt Nam loay hoay gần chục năm qua mà thành công cũng chỉ là hạn hữu. Ở một doanh nghiệp sản xuất chế biến ván tre ép sợi theo công nghệ ép nguội và gia nhiệt sau khi nguyên liệu được đóng vào khuôn, chất lượng sản phẩm hiện tại cao nhất cũng chỉ chỉ đạt khoảng 60 – 70% so với chất liệu Moso của Trung Quốc. Do vậy, một số đại biểu tham gia Hội thảo cho rằng muốn đạt được mục tiêu phát triển chế biến công nghiệp đối với tre, luồng của tỉnh, Thanh Hóa cần hiểu rõ rằng các công nghệ chế biến hiện có trên thế giới, cụ thể là ở Trung Quốc, đang được áp dụng trên cây nguyên liệu là Moso, việc áp dụng công nghệ sản xuất chế biến công nghiệp tại Việt Nam trên cây Luồng còn hạn chế (chỉ dừng lại ở việc chế biến ván ghép thanh dùng cho nội thất, các mặt hàng ngoài trời, ván ép khối, sợi vải, …vv , vẫn chưa được thử nghiệm). Có thể nói rằng công nghệ chế biến tre hiện nay của Trung Quốc, chưa hẳn đã phù hợp với cây luồng tại tỉnh Thanh Hóa. Điều đáng tiếc là công tác dịch thuật từ tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại không chỉ trong Hội thảo này mà còn cả trong lĩnh vực chế biến tre, luồng nói chung khi hợp tác với các nước trong khu vực và nhất là trong hợp tác với Trung Quốc trong lĩnh vực này có những sai sót đáng tiếc. Người dịch có lẽ không am hiểu về tre, luồng nên thường dịch MOSO là Tre, Luồng khiến cho những điểm khác biệt của hai loại cây này- điều rất có ý ngĩa trong chế biến công nghiệp không được chú ý, làm rõ và tạo ra những hiểu lầm khá tai hại. Việc chọn giống, phục tráng giống luồng Thanh Hóa cũng có nhiều điều cần được bàn luận thêm. Mặc dù, có những đại biểu như PGS.TS Trần Ngọc Lân – Phó viện trưởng Viện nghiên cứu và Phát triển Vùng – Bộ khoa học và công nghệ cho rằng “công tác chọn giống tre luồng càng cần được quan tâm nhằm đáp ứng nhu cầu về giống có sinh trưởng nhanh, chất lượng tốt, khả năng thích ứng cao và chất lượng di chuyển được cải thiện” nhưng nhìn chung vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc chọn giống, cải tạo hoặc lai tạo giống tre luồng đáp ứng được các tiêu chuẩn về chế biến công nghiệp. Các tham luận trình bày trong Hội thảo đều hướng đến việc chọn tạo giống luồng theo mục tiêu dễ thích nghi với khu vực, đất đai, cho năng suất sinh khối cao,… mà CHƯA HỀ CÓ AI ĐẶT MỤC TIÊU CHỌN TẠO GIỐNG LUỒNG PHỤC VỤ CHO CHẾ BIẾN CÔNG NGHIỆP. Nên nhớ rằng để có được thành công như hôm nay, người Trung Quốc đã có hơn 10 năm phấn đấu không ngừng nghỉ trong việc tạo ra giống Moso rất phù hợp với công nghệ chế biến công nghiệp của họ hôm nay.

Để có thể phát triển được công nghiệp chế biến tre, luồng ở Thanh Hóa nói riêng và của cả nước nói chung, cần đánh giá đúng được các xu hướng để phát triển ngành công nghiệp chế biến này để lựa chọn hướng đi cho phù hợp.

  • Nếu lựa chọn việc sử dụng các công nghệ chế biến công nghiệp sẵn có để chế biến tre luồng thì cần phải tập trung rất nhiều nguồn lực và cố gắng để thực hiện việc tuyển chọn, lai tạo, nhân giống, phát triển cây tre, luồng có những đặc điểm và tính chất phù hợp với các yêu cầu kĩ thuật công nghệ chế biến đã có này. Thời gian và nguồn lực dành cho việc chọn lọc và lai tạo gây trồng lại rừng luồng là khá dài và không ít tốn kém.
  • Nếu đi theo hướngtập trung nghiên cứu, cải tiến công nghệ chế biến hiện có để có thể sử dụng được với tính chất, đặc điểm hiện có của cây luồng Thanh Hóa cũng sẽ mất rất nhiều thời gian và tiền bạc cho công tác nghiên cứu và phát triển công nghệ chế biến công nghiệp. Đây cũng là vấn đề khó cả ở tầm quốc gia.
  • Cũng có thể sử dụng các công nghệ chế biến công nghiệp hiện có từ Trung Quốc để ứng dụng cho cây luồng Thanh Hóa, song theo hướng này chỉ có thể sản xuất ra được các sản phẩm phỏng theo các sản phẩm hiện có của Trung Quốc, chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm khó có thể cao, giá thành sản xuất chắc chắn sẽ cao hơn sản phẩm của Trung Quốc và dĩ nhiên tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường thế giới là không cao, còn việc muốn tạo ra thương hiệu riêng cho sản phẩm chế biến từ cây luồng chắc sẽ là xa vời.

img_0243

Ngành chế biến công nghiệp tre luồng Thanh Hóa nói riêng và của cả nước sẽ đi về đâu, khi ai cũng có vẻ tâm huyết với nó, nhưng hầu như không mấy ai hiểu biết sâu sắc về nó? Nên nhớ rằng chế biến công nghiệp đòi hỏi nguyên liệu có những yêu cầu riêng của nó. Không phải bất cứ loại nguyên liệu nào cũng có thể chế biến theo loại hình này được. Những loại nguyên liệu thông thường sử dụng ở các công nghệ truyền thống có thể rất tốt những lại khó có thể sử dụng trong chế biến công nghiệp được. Bài học thất bại trong xây dựng các nhà máy cà chua cô đặc, nước dứa cô đặc,.. ở Việt Nam thời gian qua là những ví dụ sống động. Chế biến tre luồng công nghiệp cũng không là ngoại lệ.

Chế biến công nghiệp tre luồng sẽ đi đến đâu nếu chúng ta vẫn CỐ TÌNH nhầm lẫn giữa Tre, Luồng của chúng ta với Moso (mao trúc) Trung Quốc???

Công nghiệp chế biến tre luồng của chúng ta sẽ đi về đâu nếu tất cả chúng ta chỉ có lòng nhiệt tình mà thôi??????????

[1]Giám đốc Công ty cổ phần Tre công nghiệp Việt Nam.